| Lại nói thêm vài lời về ông Joel Brinkley |
|
|
| Thứ bảy, 23 Tháng 2 2013 07:36 |
|
Người Việt ăn thịt nhiều? Dù biết rằng câu phát biểu của ông Joel Brinkley là vô duyên và khó đọc, tôi vẫn cố công tìm vài thông tin để cho thấy ông ấy sai. Rất sai. Những dữ liệu dưới đây cho thấy người Việt Nam ăn ít thịt động vật hơn người Mĩ và người Thái Lan, nhưng về lượng cơ của người Việt thì tương đương với lượng cơ của người Thái Lan. Những dữ liệu cho thấy – một lần nữa – ông Brinkley phát biểu hồ đồ, vô căn cứ. Trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, ông Brinkley nói rằng khẩu phần ăn của người Việt làm cho họ “cường tráng”. Ông nói “tuy vậy, khẩu phần ăn của người Việt thật sự khiến họ cường tráng hơn người dân ở các nước láng giềng.” Không chỉ nói một lần, mà nói hai lần. Trong một phần sau, ông nhấn mạnh “[…] người VN cường tráng hơn người dân các quốc gia láng giềng vốn chỉ ăn cơm chứ không có nhiều thứ khác trong khẩu phần của họ.” (Cần nói thêm rằng trong email riệng, ông phàn nàn Tuổi Trẻ đã xuyên tạc lời nói của ộng ta, nhưng bản tiếng Anh thì đúng như Tuổi Trẻ đưa tin). Rất ít ai có thể ăn gạo trắng mà không kèm theo protein. Nguồn protein thì có thể là động vật, nhưng cũng có thể là thực vật. Các dân tộc chung quanh ta cũng thế thôi. Người Mĩ như ông Brinkley cũng thế. Trong số những nước láng giềng, Thái Lan là nước có làm nghiên cứu để định lượng khẩu phần ăn uống của dân chúng. Vậy chúng ta thử so sánh khẩu phần ăn của người Việt và người Thái xem sao. Nhưng để thêm thông tin tham chiếu, chúng ta cũng cần số liệu của Mĩ. Nếu giả thuyết của ông Brinkley rằng ăn nhiều protein động vật làm cho người ta hung hãn (sau này ông nói cường tráng), thì chúng ta kì vọng rằng người Việt Nam phải ăn nhiều protein động vật hơn người Thái và người Mĩ. Vậy chúng ta thử xét xem dữ liệu thực tế ra sao? Về lượng protein ăn mỗi ngày, tính trung bình như sau:
Về lương cơ, tức fat-free mass, một chỉ số về “cường tráng”:
Như vậy người Việt và người Thái có tương đương lượng protein, và tương đương lượng cơ. Nhưng so với người Mĩ thì lượng protein của người Việt ăn vào mỗi ngày còn rất thấp. Người Mĩ cũng ăn nhiều protein động vật hơn người Việt, và điều này thì chẳng ai ngạc nhiên. Như vậy cái giả thuyết của ông Brinkley hoàn toàn chẳng có cơ sở gì cả. Thật ra, tôi chỉ nêu ra cho vui thôi, chứ cái gọi là “giả thuyết” của ông ấy không đáng để tốn thì giờ như vậy. Những dữ liệu trên cho thấy một điều đơn giản là những gì ông Brinkley nói hoàn toàn sai và vô căn cứ. Còn những gì ông suy luận rằng khẩu phần ăn của người Việt làm cho chúng ta “cường tráng” hơn thì quá ư là khôi hài, có lẽ nên để làm chuyện hài hước hơn là để bàn luận nghiêm chỉnh. Những gì tôi viết ở đây chứng minh rằng ông Brinkley phát biểu rất hồ đồ. Hoặc là ông xem thường độc giả người Việt, hoặc là ông quá kém trong khoa học. Nói xỏ lá ? Tôi nghĩ ông Brinkley hình như có một “track record” xin lỗi theo kiểu … không xin lỗi. Trong một lần trả lời mới đây trên tcdailyplanet.net ông bày tỏ xin lỗi độc giả và người Việt, nhưng ngay cả tờ báo cũng nói xin lỗi theo cách không xin lỗi. Cách Brinkley xin lỗi đọc cứ như là “Tôi xin lỗi vì tôi đã viết ra những điều xúc phạm”. Ông còn viết một câu hết sức buồn cười, rằng “Người Việt Nam có vẻ quá nhạy cảm với phê bình, giống như các dân tộc khác trên thế giới”. Rồi ông thêm một câu rằng ông không có ý định xúc phạm người Việt. Hài hước thật! Đúng như phóng viên bài báo ví von rằng cách nói của ông ta chẳng khác gì ông đốt nhà người ta xong, rồi ông nói ông nghĩ rằng đó là căn nhà hoang. Vấn đề không phải là ông cố ý hay không cố ý, nhưng là chữ nghĩa và tác động. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà tờ báo chạy cái tít “Apology not accepted” (lời xin lỗi không được chấp nhận). Nay, trả lời Tuổi Trẻ, ông vẫn lặp lại luận điệu xin lỗi mà không xin lỗi. Khi được hỏi “dựa vào đâu mà ông lập luận rằng ăn thịt khiến người ta trở nên hung hăn hơn”, thì ông thú nhận rằng ông đã sai lầm trong lập luận. Nhưng ông không dừng ở đó; ông nói thêm rằng “tuy vậy, khẩu phần ăn của người Việt thật sự khiến họ cường tráng hơn người dân ở các nước láng giềng.” Đó là khẩu phần gồm có gì? Trong một câu trả lời sau, ông nói “Tôi sẽ viết rằng người VN cường tráng hơn người dân các quốc gia láng giềng vốn chỉ ăn cơm chứ không có nhiều thứ khác trong khẩu phần của họ.” Nói cách khác, người dân các nước láng giềng chỉ ăn cơm là chủ yếu, còn người Việt ăn “nhiều thứ khác”. Chúng ta phải hỏi chẳng lẽ người Việt không ăn cơm, và chỉ có người Khmer, Lào, Thái, Mã Lai, v.v. mới ăn cơm? Lại thêm một so sánh cực kì hài hước của ông Brinkley. Nhưng cụm từ quan trọng ở đây là “nhiều thứ khác”. Nhiều thứ khác là gì? Giả dụ rằng ông muốn nói “nhiều thứ khác” là thịt gia cầm như heo, gà, cá, rau quả, v.v. thì chắc chẳng có gì khác biệt, bởi người Khmer, Lào, Thái, v.v. cũng ăn những thực phẩm đó. Nhưng với cái quá khứ nói rằng người Việt ăn chuột, mèo, chó, v.v. thì chúng ta có thể hiểu rằng “nhiều thứ khác” chính là những con vật đó. Vì ăn những con vật đó, nên người Việt “cường tráng”. Câu hỏi đặt ra làm sao ông biết người Việt cường tráng hơn các dân tộc láng giềng? Lấy gì để đo “cường tráng”? Biết rằng hỏi như thế là bắt bí ông Brinkley, vì ông đâu phải là người làm khoa học, nên có biết gì về khái niệm “cường tráng” và cách đo. Nhưng ông đã nói ra thì ông cũng phải có trách nhiệm giải thích. Ở đây, ông Brinkley lại vấp phải kiểu nguỵ biện ecologic fallacy nữa. Ông này có lẽ không phải là người làm khoa học, nên cứ vấp phải kiểu nguỵ biện này mãi. Nhưng như trên, tôi đã trình bày dữ liệu cho thấy người Việt Nam chẳng cường tráng hơn ai, và lượng protein động vật ăn vào cũng thấp hơn so với người Mĩ và Thái Lan. Nói tóm lại, ông Brinkley ... nói bậy. Nhưng có lẽ ông Brinkley hoặc là cố ý nói xỏ, chứ đâu có xin lỗi. Nhưng chúng ta hãy dễ tính và cẩn thận một chút bằng cách đặt ra 2 giả thuyết:
Giả thuyết 1 khó có khả năng. Lí do là vì ông là giáo sư về báo chí, là bậc thầy của chữ nghĩa, thì khó nói rằng ông vụng về được. Vả lại, ông đã từng bị sai lầm và thú nhận sai lầm, thì chuyện nói lần thứ hai càng phải cẩn thận, nên không có chuyện vụng về ở đây. Chúng ta chỉ còn giả thuyết 2: đó là ông cố ý xỏ xiên người Việt. Cũng cần phải nói rằng những gì ông Brinkley quan sát cách làm thịt chuột hay vấn nạn tàn sát động vật hoang dã là sự thật (dù ông cũng chẳng có dữ liệu gì). Không ai bác bỏ sự thật rằng Việt Nam là một trong những nước có vấn đề về quản lí động vật hoang dã. Dù việc buôn bán và ăn thịt động vật hoang dã là một vấn nạn của cả vùng Đông Nam Á, nhưng Việt Nam là nơi được xem là tồi tệ nhất. Báo cáo của WWF nói như thế. Tôi cũng ghi nhận điều này. Nhưng không ai, kể cả WWF, dùng cái sự thật đó để nói rằng người Việt hung hãn (hay cường tráng) cả. Không ai ngớ ngẩn (xin lỗi, phải nói nặng) đến như thế cả. Thật ra, chính một viên chức trong WWF cũng phản đối bài viết của Brinkley. Còn những người cứ cho rằng ông Brinkley nói đúng, tôi thật không hiểu họ nói ông ấy đúng chỗ nào? Ông nói bầu trời Việt Nam không còn một con chim nào, không có một con chuột nào chạy quanh mấy thùng rác (chắc ông chưa về quê để thấy chuột trên đồng ruộng), đường phố không có một con chó nào (chắc ông chỉ đi qua vài phút), v.v. Cách nói thậm xưng đó có lẽ ok trên bàn nhậu hay tán gẫu, chứ đâu thể nói trên giấy trắng mực đen như là chứng từ được. Ông nói mà chẳng có 1 bằng chứng (chính ông ấy thú nhận) mà nói đúng ư? Chính người Mĩ phản đối ông ấy nhiều hơn là người Việt. Chính các tổ chức báo chí Mĩ phản đối ông ấy hơn là tổ chức báo chí VN. Ấy thế mà không thấy Hội Báo chí Việt Nam lên tiếng! Trong giới học thuật cũng có những giai tầng giáo sư, có loại kém, loại làng nhàng (rất nhiều), và loại tinh hoa. Tôi đoán ông Brinkley thuộc vào loại kém, vì publication của ông chủ yếu là trên báo chí phổ thông, chứ không phải academic journals. Dù là lí do gì thì khả năng biện luận của ông quả thật không xứng đáng với chức danh professor, chứ chưa nói đến professor của Đại học Stanford. Trước đây, báo tcplanet đã tuyên bố không chấp nhận lời xin lỗi của ông Brinkley (your apology is not accepted). Với kiểu nói xỏ xiên như trên báo Tuổi Trẻ, tôi nghĩ chúng ta cũng có lí do để nói lớn với ông rằng Your apology is NOT accepted -- again. Tham khảo: Kosulwat, V. Publ Health Nutr 2002;5:183-9 Ho-Pham TL, et al. Osteoporos Int 2009 Dec;20(12):2087-93. Maurer et al. Top Clin Nutr 2007;202-233.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|
| Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 23 Tháng 2 2013 08:30 Read : 5265 times |
Google
Facebook
Twitter
del.icio.us
Blogger
Rain Concert 


Chuyện ông Brinkley đã cũ, nhưng tôi chỉ muốn post lại đây những dữ liệu mà tôi đã chuẩn bị sẵn từ hơn 1 tuần trước để trả lời ông Brinkley (nhưng không đăng). Nay